BREAKING NEWS
Hiển thị các bài đăng có nhãn ECB. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ECB. Hiển thị tất cả bài đăng

24/4/14

NHTW - Quyền lực sau khủng hoảng (P1): Những người bẻ lái

6 tuần 1 lần, những người quyền lực lại nhóm họp. Họ được xem là những người thao túng thế giới, cả trên thị trường và chính trường.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính, các ngân hàng trung ương (NHTW) đã mạnh tay cắt giảm lãi suất, mua một lượng lớn trái phiếu chính phủ và ứng cứu các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, đến nay đã dùng “hết sách” nhưng kết quả vẫn không mấy khả quan. Phải chăng quyền lực của các NHTW đã giảm sút.

6 tuần 1 lần, những người quyền lực nhất trong nền kinh tế toàn cầu lại gặp nhau trên tầng 18 của một tòa nhà xấu xí gần trạm xe lửa ở thành phố Basel, Thụy Sĩ. Họ được xem là những người thao túng thế giới, cả trên thị trường và chính trường.

Cuộc họp quyền lực

Nhóm quyền lực bao gồm Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) Janet Yellen và người đồng nhiệm ở NHTW châu Âu (ECB), ông Mario Draghi, cùng 16 quan chức tiền tệ hàng đầu khác đến từ Bắc Kinh, Frankfurt (Đức), Paris và nhiều nơi khác. Họ bỏ ra gần 2 giờ để trao đổi quan điểm trong một buổi tranh luận do Thống đốc NHTW Mexico Agustín Carstens cầm trịch.

Không ai ghi lại biên bản nhưng các nhà quản lý tiền tệ thế giới có ảnh hưởng nhất cho biết cuộc họp đóng vai trò quan trọng trong việc giúp mở rộng kiến thức của họ. Những cuộc họp như vậy đã có từ rất lâu. Theo nhiều người, qua những cuộc họp này họ thiết đặt lãi suất và kiểm soát cung tiền, giám sát các chính phủ và ngân hàng. Thậm chí họ được công chúng xem như những siêu sao. Họ quyết định những gì xảy ra trên thị trường, chính trường và thao túng cả hành tinh.
`

TP Basel - nơi diễn ra những cuộc họp của các lãnh đạo NHTƯ.

Nhưng kể từ khi nhiều NHTW giảm lãi suất gần bằng không, mua nợ và ứng cứu các ngân hàng, sự bất đồng ngấm ngầm len lỏi vào các cuộc bàn luận thường kỳ. Những cuộc thảo luận nội bộ của họ ít mang lại ấn tượng thành công. Các nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn tăng trưởng ì ạch; ngân hàng, hộ gia đình và các chính phủ vẫn ngập sâu trong nợ; các ngân hàng sử dụng chính sách tiền tệ không theo quy ước ngày một nhiều hơn.

Các chuyên gia tiền tệ từ những nền kinh tế mới nổi đã phàn nàn rằng các biện pháp của châu Âu và Mỹ đã đẩy mạnh dòng tiền đầu cơ không mong muốn. Hay tại Mỹ, thành viên của Ban Thống đốc FED đang tranh cãi quanh việc có nên chấm dứt việc chi hàng ngàn tỷ USD để mua trái phiếu chính phủ hay không. Tại Anh, NHTW khiến công chúng mơ hồ với những công bố trái ngược về các quyết định lãi suất tương lai.

Và ở EU, sự chia rẽ của các cơ quan giám sát tiền tệ của Hội đồng ECB khiến cuộc chiến đẩy lạm phát trở nên khó khăn. Tại cuộc họp gần đây nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ở Washington, các chuyên gia chính sách tài chính và nhà điều hành ngân hàng thúc giục các thống đốc NHTƯ tiếp tục duy trì chính sách tiền rẻ. Các chính sách được bàn đến là mua thêm trái phiếu, duy trì lãi suất thấp và những giao dịch của NHTW liên quan đến chứng khoán nợ thế chấp.

Chiến binh đơn độc

Nếu có một cao bồi trong hàng ngũ các nhà NHTW toàn cầu, thì đó là Richard Fisher, Chủ tịch FED chi nhánh Dallas. Thần tượng của Fisher là Paul Volcker, Chủ tịch FED từ những năm 1980, người đã tính cực trục xuất bóng ma lạm phát ra khỏi Hoa Kỳ. Ngược lại mong muốn của Tổng thống Jimmy Carter và phần đông công chúng, ông đẩy lãi suất cơ bản lên những mức cao kỷ lục.

Điều này dẫn tới một cuộc suy thoái kinh tế nặng, nhưng cũng chấm dứt tình trạng lạm phát 2 con số. Đối với Fisher, Volcker thuộc vào hàng ngũ "các vị thánh của chính sách tiền tệ". Nhưng kể từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính, kịch bản đối với các nhà NHTW không còn chứa những yếu tố như các bộ phim của phương Tây, mà giống loạt phim "Phòng cấp cứu" của Mỹ hơn.

Không ai nhận thức điều này rõ hơn Fisher, người đã có mặt trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt sau sự sụp đổ của Lehman, khi chính phủ đã phải ứng cứu các ngân hàng lớn và bảo vệ các khu vực tài chính khỏi sụp đổ. Lãi suất đã giảm xuống gần như bằng không và chính phủ đã mua trái phiếu kho bạc trên quy mô lớn.

Các nỗ lực cứu hộ cuối cùng đã thành công, nhưng bệnh nhân vẫn chưa hoàn toàn bình phục. Nền kinh tế chỉ từ từ nhích lên và nhiều nhà máy vẫn không hoạt động hết công suất. Điều này khiến một số đồng nhiệm của Fisher trong Ban Thống đốc FED ủng hộ bơm thêm tiền vào nền kinh tế.

Fisher thì ngược lại, ông cảm thấy bối rối khi FED đã chi tới 18.000 tỷ USD - tương đương 1/4 tòa bộ nợ công Mỹ - để mua trái phiếu và chứng khoán thế chấp nhưng hiệu quả quá ít ỏi. Đó là do phần lớn số tiền được bơm ra lĩnh vực tài chính không đến được khu vực tư nhân dưới dạng tín dụng cho vay như các nhà NHTW mong đợi.

Thay vào đó, nó chảy vào thị trường chứng khoán, nơi giá đã đạt những mức cao đáng lo ngại trong những tháng gần đây. Thị giá chứng khoán nay đã xấp xỉ những mức như trước ngày Thứ sáu Đen năm 1929 và vụ vỡ bong bóng dotcom 70 năm sau đó. Tuy nhiên, Fisher hiện như một "chiến binh đơn độc".

23/4/14

Hy Lạp dẫn đầu Eurozone về tỷ lệ nợ công

Năm 2013, nợ công Hy Lạp lên mức cao nhất trong khu vực đồng euro, nhấn mạnh tính cấp thiết của việc giảm chi phí các khoản cứu trợ của chính phủ.


Theo văn phòng thống kê Liên minh châu Âu (Eurostat), trong năm 2013, tỷ lệ nợ công/GDP của Hy Lạp đã tăng lên đến 175,1%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước đó là 157,2%. Tỷ lệ nợ công/GDP của toàn bộ khu vực đồng euro đã lên mức cao kỷ lục là 92,6%.

Nicholas Spiro, giám đốc quản lý công ty tư vấn Chiến lược Quốc gia Spiro, nhận xét rằng, sự gia tăng trong nợ công kể từ cuộc khủng hoảng tài chính của Hy Lạp năm 2009 thật đáng kinh ngạc. Các nước đối tác dự báo, tỷ lệ nợ công/GDP sẽ giảm mạnh xuống dưới 110% đến năm 2022.

Tháng 11/2012, khi chính phủ Hy Lạp đăng ký mục tiêu thặng dư ngân sách chính (không bao gồm chi phí vay nợ), các đối tác trong khu vực đồng euro của Hy Lạp cho biết sẽ xem xét thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhằm giúp nước này đạt được mục tiêu đã đề ra bằng thỏa thuận cứu trợ. 

Trong nỗ lực tìm cách thúc đẩy chính phủ liên minh hai đảng, Thủ tướng Hy Lạp Antonis Samaras hy vọng rằng, các biện pháp cắt giảm chi phí mà ông đưa ra sẽ có hiệu quả trước khi cuộc bầu cử lập pháp châu Âu diễn ra vào tháng tới. Chính phủ Hy Lạp cho biết, năm 2013, thặng dư ngân sách chính đạt 2,9 tỷ euro (4 tỷ USD) năm ngoái. Hôm nay, Ủy ban châu Âu sẽ xác nhận lại con số này.

Số liệu công bố ngày 23/4 cho biết, năm 2013, thâm hụt của Hy Lạp đã tăng lên 12,7% so với GDP, cao hơn nhiều so với tỷ lệ của năm 2012 là 8,9%. Con số này bao gồm chi phí tái cấp vốn của các ngân hàng tại Hy Lạp. Nếu không tính thêm chi phí này, Ủy ban châu Âu dự báo, thâm hụt của Hy Lạp trong năm 2014 sẽ giảm xuống 2,2% so với GDP.

Ông Samaras cũng dự báo, đến năm 2015, kinh tế Hy Lạp sẽ có cả thặng dư ngân sách chính và thặng dư tài chính. Điều này đồng nghĩa với việc Hy Lạp có thể tự mình trả nợ mà không cần vay nước ngoài. Hy Lạp đã tiến hành công cuộc tái cơ cấu nợ công lớn nhất thế giới và nhận 240 tỷ euro tiền cứu trợ tính đến thời điểm hiện tại. Để nhận được các khoản cứu trợ, Hy Lạp phải đối mặt với một loạt các điều kiện kinh tế như cải cách thị trường lao động và mục tiêu ngân sách.

Trong những tuần gần đây, kinh tế Hy Lạp đã tạo được đà phục hồi. Tháng 4, lần đầu tiên trong 4 năm, chính phủ tiến hành bán trái phiếu và dự báo, trong năm 2014, Hy Lạp sẽ thoát khỏi cuộc suy thoái kéo dài trong 6 năm. 

Số liệu công bố ngày hôm nay cũng khẳng định rằng, các nền kinh tế dễ bị tổn thương khác của khu vực đồng euro cũng vẫn phải đối mặt với vấn đề kiểm soát nợ. Ý vẫn là nước có mức nợ công cao thứ 2 của khu vực với tỷ lệ nợ công/GDP tăng lên 132,6% trong năm 2013.

Bồ Đào Nha xếp vị trí thứ 3 với tỷ lệ nợ công/GDP tăng lên 129%, sau đó là Ireland với tỷ lệ nợ công/ GDP tăng lên 123,7%. Cả hai nước đều nhận các gói cứu trợ quốc tế trong thời kỳ khủng hoảng tại khu vực châu Âu lên đỉnh điểm.

Số liệu cũng cho thấy, một số nước thuộc khu vực đồng euro đang đấu tranh để giảm thâm hụt ngân sách. Theo đó, năm 2013, thâm hụt ngân sách của Pháp giảm xuống 4,3% và thâm hụt của Tây Ban Nha giảm xuống 7,1%.


Nguồn Gafin/ Bloomberg/ DVO

17/4/14

EC cảnh báo hậu quả kinh tế từ việc trừng phạt Nga



Tài liệu của EC đánh giá hạng mục năng lượng, tài chính, thương mại, và chỉ ra hậu quả trong quan hệ kinh tế song phương giữa Nga và mỗi nước EU.



Ủy ban châu Âu (EC) đã gửi một số tài liệu cho các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU), để cảnh báo về hậu quả kinh tế từ các biện pháp trừng phạt thương mại và tài chính khắt khe hơn mà EU đe dọa áp đặt với Nga liên quan tới tình hình Ukraine.

Được gửi riêng tới các đại sứ EU trong cuộc họp tại Brussels (Bỉ) ngày 16/4, các tài liệu của EC đánh giá một số hạng mục trừng phạt, bao gồm năng lượng, tài chính và thương mại, đồng thời chỉ ra hậu quả mà các biện phát trừng phạt này có thể gây ra trong quan hệ kinh tế song phương giữa Nga và mỗi quốc gia EU. 

Các nước EU có thời hạn tới ngày 22/4 để phản hồi với EC, sau đó EC sẽ sửa đổi các biện pháp trừng phạt với mục tiêu có được sự nhất trí vào tuần tới, giúp các nhà lãnh đạo EU đưa ra quyết định nếu tình hình tại Ukraine diễn biến xấu đi. 

Một nhà ngoại giao EU cho biết điều quan trọng là không được để xảy ra tình huống một vài nước EU sẽ phải chịu hậu quả nặng nề từ các biện pháp trừng phạt với Nga.

Trong một cuộc họp hồi tháng trước, các nhà lãnh đạo EU nhất trí sẽ đi tới "giai đoạn trừng phạt thứ ba" nếu Liên bang Nga "có bất kỳ bước đi tiếp theo nào làm mất ổn định tình hình Ukraine." Việc gia tăng trừng phạt được đưa ra sau các vụ biểu tình căng thẳng ở miền Đông Ukraine mới đây mà Kiev nói rằng do Moskva hậu thuẫn. Tuy nhiên, nhiều nước EU yêu cầu có thêm bằng chứng trước khi đưa ra một quyết định gia tăng trừng phạt, bởi lo ngại một quyết định vội vã có thể gây phương hại cho kinh tế chính các nước EU. 

Một số quan chức ngoại giao EU cho hay giai đoạn trừng phạt tiếp theo đối với Nga còn phụ thuộc nhiều vào cuộc gặp bốn bên giữa Nga, Mỹ, Ukraine và EU tại Geneva, Thụy Sĩ vào ngày 17/4.

Một số thành viên EU bày tỏ quan ngại rằng những biện pháp đáp trả của Nga có thể khiến hậu quả của những lệnh trừng phạt trở nên tồi tệ hơn, đặc biệt là với Đức - vốn nhập khẩu 30% khi đốt và dầu mỏ từ Nga và xuất khẩu nhiều mặt hàng công nghiệp tới Moskva. 

Ngoài ra, hậu quả về kinh tế nếu áp dụng các biện pháp trừng phạt Nga cũng nhiều khả năng xảy ra với Anh, cùng các nước EU có quan hệ kinh tế gắn bó với Nga như Italy, Áo, Cyprus và Hy Lạp. 

Cho tới nay, EU đã áp đặt những biện pháp trừng phạt hạn chế đối với Moskva, trong đó có lệnh cấm du lịch và đóng băng tài khoản của khoảng 30 cá nhân.

Nguồn Vietnamplus

Nga nhận định có rủi ro đầu tư vào Euro, USD do khủng hoảng Ukraine

Cấm vận từ phương Tây đe dọa các khoản đầu tư bằng Euro, USD của Nga. Việc dùng quỹ tài sản quốc gia cho dự án nội địa cần được tính đến.


Bộ trưởng kinh tế Nga, ông Alexei Ulyukayev cho biết, cấm vận đối với Nga trước khủng hoảng Ukraine đang đe dọa các khoản đầu tư bằng Euro và USD của nước này, đồng thời hối thúc cần phải sử dụng các quỹ tài sản quốc gia cho những dự án nội địa.

Theo Bộ tài chính Nga, hai quỹ đầu tư quốc gia của Nga với giá trị tương đương 175 tỷ USD tính đến cuối tháng 3, thường được phép đầu tư vào các chứng khoán niêm yết bằng USD, Euro và bảng Anh.

Phát biểu với các nhà làm luật hôm nay tại Moscow, ông Ulyukayev cho rằng Nga nên chú ý nghiên cứu kỹ các rủi ro trong việc đầu tư vào các chứng khoán bằng đồng USD và Euro trong bối cảnh địa chính trị hiện tại.

Số liệu ra ngày hôm qua của Kho bạc Mỹ cho thấy, lượng nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ của Nga giảm liên tiếp 4 tháng, xuống mức thấp nhất trong 3 năm và còn 126,2 tỷ USD trong tháng 2 so với 131,8 tỷ USD trong tháng 1.

Cấm vận của Mỹ và châu Âu bắt nguồn từ việc Nga sáp nhập khu vực Crimea của Ukraine trong tháng trước. Hành động này đã đẩy dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Nga tăng lên và đẩy nỗi lo rơi vào suy thoái lên cao khi tăng trưởng kinh tế nước này tụt xuống thấp nhất 4 năm. Với tình hình căng thẳng leo thang tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh lạnh, Mỹ và các đồng minh châu Âu đe dọa khả năng có thêm vòng trừng phạt mới với Nga nếu khủng hoảng vẫn tiếp diễn.

Theo ông Ulyukayev, chính phủ nên xem xét đầu tư vào các công cụ khác, bao gồm các dự án cơ sở hạ tầng.

Nguồn GAFIN/Bloomberg/NCĐT

16/4/14

Mỹ ra báo cáo hối thúc Trung Quốc thả nổi nhân dân tệ


Báo cáo trình Quốc hội Mỹ hối thúc Trung Quốc giảm can thiệp tiền tệ quy mô lớn, để thị trường đóng vai trò lớn hơn trong định giá nhân dân tệ.

Mỹ chỉ trích can thiệp quy mô lớn của ngân hàng trung ương Trung Quốc làm yếu đồng nhân dân tệ chỉ vài giờ sau khi có số liệu chính thức cho thấy Trung Quốc đạt dự trữ ngoại hối gần 4 nghìn tỷ USD và GDP quý 1 tăng ở mức 7,4%.

Trong báo cáo bán niên trình Quốc hội về các chính sách kinh tế quốc tế và tỷ giá hôm qua, Kho bạc Mỹ hối thúc Trung Quốc giảm những nỗ lực can thiệp tiền tệ quy mô lớn và để thị trường đóng vai trò lớn hơn trong việc định giá đồng nhân dân tệ. Tuy nhiên, cơ quan này cũng từ chối chỉ tên quốc gia mà Mỹ cho là đang thao túng thị trường ngoại hối.

Điểm chính của báo cáo một lần nữa tập trung vào Trung Quốc sau khi nước này can thiệp đẩy giá nhân dân tệ xuống sau vài năm đồng tiền giữ vững mức định giá đúng.

Kho bạc Mỹ cho biết, có nhiều dấu hiệu cho thấy quá trình điều chỉnh tỷ giá hối đoái vẫn còn chưa hoàn thiện và tiền tệ vẫn còn phải được định giá đúng hơn nữa.

Báo cáo nhấn mạnh lo ngại của các quan chức Mỹ với những nước có thặng dư kinh tế và đang chi phối nhu cầu của nền kinh tế thế giới, cho thấy khả năng xảy ra giai đoạn căng thẳng tỷ giá mới. Theo báo cáo, trong năm 2014, tỷ giá hối đoái đảo chiều, bị mất giá 2,68% tính đến thời điểm báo cáo. 

Cơ quan tài chính của Mỹ tranh luận rằng thặng dư tài khoản vãng lai lớn, tăng trưởng sản lượng cao và tích lũy dự trữ ngoại hối kỷ lục ở 510 tỷ USD trong suốt năm 2013 của Trung Quốc cho thấy đồng nhân dân tệ vẫn bị định giá thấp. Chính phủ Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng cho phép đồng nội tệ nước này được định giá đúng và về mức cân bằng với thị trường.

Các nước có đồng nội tệ được định giá thấp sẽ có lợi thế xuất khẩu, kéo nhu cầu của Mỹ theo hướng hỗ trợ nền kinh tế của nước đó, và cuối cùng là buộc Mỹ phải tăng nhập khẩu nếu muốn giữ tỷ lệ việc làm trong nước cao.

Ngoài ra, Kho bạc Mỹ cũng gây sức ép với Đức khi chỉ ra rẳng cầu nội địa của nước này mới chỉ vượt tổng mức tăng trưởng trong 3/10 năm qua, chứng tỏ Đức phụ thuộc vào xuất khẩu trong 7/10 năm.

Báo cáo này ra ngay sau một cuộc họp của các nước G20, chứng tỏ Kho bạc Mỹ vẫn đang hướng tới tiến trình ngoại giao thay vì đối đầu trực tiếp với những nước như Trung Quốc.


Nguồn GAFIN/FT/NCĐT

USD tăng 3 ngày liên tiếp trước căng thẳng tại Ukraine

Các nhà đầu tư chuyển hướng sang đồng tiền dự trữ an toàn do căng thẳng tại Ukraine và dự báo Nhật Bản sẽ thực hiện gói kích thích kinh tế mới.

Chỉ số đô la giao ngay của Bloomberg - theo dõi tỷ giá của USD với 10 đồng tiền mạnh khác - tăng 0,2% lên 1.009,89 điểm sau khi Ukraine triển khai hành hộng quân sự trấn áp phe ủng hộ Nga. 

Nhật Bản sẽ công bố báo cáo đánh giá hàng tháng về nền kinh tế vào ngày 17/4. Yên giảm giá so với USD sau khi Nikkei cho biết, chính phủ sẽ hạ thấp đánh giá kinh tế trong báo cáo công bố ngày mai. USD giao dịch tại 101,92 JPY/USD vào lúc 17h ngày 15/4 tại New York. 



Euro giảm 0,04% xuống 1,3815USSD/EUR.


Đô la Úc giảm so với USD khi biên bản cuộc họp của ngân hàng trung ương Úc cho biết, các nhà hoạch định chính sách có thể sẽ giữ nguyên mức lãi suất hiện tại và nguồn cung tiền của Trung Quốc tăng trưởng chậm kỷ lục. 

Trong khi đó, Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Úc cho biết chỉ số tín dụng mới đã giảm 19%, tăng trưởng trong nguồn cung tiền M2 giảm xuống 12,1%. Số liệu nhấn mạnh rủi ro suy thoái sâu hơn của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Đô la Úc giảm 0,7% xuống giao dịch ở 93,62 USD/AUD.



Hryvnia của Ukraine tăng giá liên tục trong 6 tuần sau khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất lên mức cao nhất kể từ năm 1998. Hryvnia tăng 6,3% so với USD, giao dịch ở 11,9 hryvnia/ USD.


Trong khi đó, rúp của Nga giảm 0,6% xuống so với USD và euro. Peso của Chile giảm 1,1% so với USD và là đồng tiền bị thua lỗ lớn nhất trong số các đồng tiền của thị trường mới nổi. 


Chính phủ Kiev bắt đầu triển khai hoạt động quân sự nhằm trấn áp cuộc đụng độ giữa lực lượng của Ukraine và phe ủng hộ Nga tại nước này. Phương Tây cũng đưa ra các biện pháp trừng phạt nặng hơn đối với Nga khi cho rằng Nga đã cố tình khuấy động bất ổn tại Ukraine.


Nguồn Gafin/ Bloomberg/ NCDT

15/4/14

Vàng và tỷ lệ lãi suất chẳng còn mối liên hệ rõ ràng

Lý do đằng sau quyết định gia tăng lãi suất là yếu tố quan trọng trong việc giải thích sự thay đổi nhất định trong tỷ lệ lãi suất có ảnh hưởng đáng kể tới giá vàng, phương hướng và biến động hay không. Giới đầu tư không nên hạn chế đầu tư vàng tại thời điểm này chỉ bởi dự đoán tỷ lệ lãi suất tăng sẽ đẩy giá vàng đi xuống.

Có một khái niệm phổ biến đã lan truyền trên thị trường vàng nhiều năm, đó là việc lãi suất thực âm sẽ kéo giá vàng đi cao hơn trong khi lãi suất thực dương đẩy giá vàng giảm. Nhiều báo cáo nghiên cứu phát đi trong những tháng gần đây đều coi tỷ lệ lãi suất thực gia tăng chính là lý do khiến giá vàng suy yếu trong thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai mặt hàng này không hề đơn giản như vậy.

Nghiên cứu hai số liệu này trong thời gian dài, bạn sẽ thấy hầu như không có mối quan hệ nào rõ ràng giữa chúng. Giá vàng đã tăng mạnh trong cả giai đoạn lãi suất thực âm và lãi suất thực dương. Và quý kim cũng giảm trong cả hai điều kiện môi trường này. Chúng ta có thể nhận ra điều đó qua biểu đồ “Lợi tức vàng và Lãi suất thực.”



Tại biểu đồ này, các điểm dữ liệu màu đen xuất hiện trong giai đoạn từ tháng 1/2007 tới tháng 2/2014, bao gồm thời điểm trước khi FED quyết định giảm lãi suất (9/2007) cũng như tác động lên giá vàng sau khi lãi suất giảm và duy trì tại ngưỡng 0.25% kể từ tháng 1/2009. Có thể thấy, tỷ lệ lãi suất đã ở mức thấp suốt ¾ thời gian của giai đoạn tháng 1/2007 cho tới tháng 2/2014.


Dựa trên quan điểm cho rằng vàng sẽ chạy theo xu hướng tích cực trong môi trường lãi suất thực âm, 3/4 các điểm dữ liệu màu đen đáng nhẽ phải nằm ở góc trên bên trái (-, +) của biểu đồ. Tuy nhiên, thực tế lại không như vậy: chỉ có một vài điểm dữ liệu được hiển thị ở góc dưới bên trái (-, -) của biểu đồ. Vẫn còn một ví dụ cực đoan hơn nhằm minh họa cho việc thiếu vắng mối liên hệ thống kê giữa giá vàng và lãi suất thực, đó là khoảng thời gian giữa tháng Giêng năm 1975 và tháng 12 năm 1976. Trong suốt giai đoạn này, tỷ lệ lãi suất đều ở mức thấp nhưng đà tăng trên thị trường vàng lại rất thưa thớt.

Lý do đằng sau quyết định gia tăng lãi suất là yếu tố quan trọng trong việc giải thích sự thay đổi nhất định trong tỷ lệ lãi suất có ảnh hưởng đáng kể tới giá vàng, phương hướng và biến động hay không. Đôi khi việc thay đổi lãi suất là sự kiện quan trọng nhưng đôi khi lại không.

Những người ủng hộ mối quan hệ này giữa giá vàng và lãi suất thực tin rằng giá vàng sẽ tăng trong môi trường lãi suất thực âm bởi vì chi phí cơ hội để nắm giữ chúng tại mức lãi suất thấp trong một môi trường như vậy sẽ giảm đi rất nhiều. Trong khi không có được lợi tức từ vàng, các nhà đầu tư kim loại sẽ kiếm tiền từ việc gia tăng vốn. Đây là một lời giải thích có phần đơn giản hơn.

Nếu lãi suất thực bắt đầu tăng, vào cuối năm 2014, năm 2015, hoặc bất cứ khi nào, sự thay đổi đầu tiên sẽ áp dụng cho tỷ lệ lãi suất danh nghĩa ngắn hạn và lãi suất thực âm. Việc gia tăng lãi suất danh nghĩa ở mức độ nhỏ sẽ không đủ mạnh để lôi kéo giới đầu tư ra khỏi thị trường vàng và tìm tới các tài sản lãi suất thấp. Họ cần phải điều chỉnh mức lãi suất cao hơn nhiều mới có thể kích thích một cuộc di cư trên thị trường, tuy nhiên, triển vọng này có lẽ sẽ tốn nhiều thời gian.

Một lời giải thích khác cho sự thiếu vắng mối liên quan giữa vàng và tỷ lệ lãi suất chính là việc môi trường lãi suất thực chỉ có tác động tạm thời lên giá vàng chứ không phải là lâu dài. Kết quả là, khi môi trường lãi suất thay đổi theo cách này hay cách khác, chúng sẽ ảnh hưởng đến vàng nhưng giá vàng cuối cùng cũng sẽ ngừng phản ứng với sự kiện này để đón nhận những ảnh hưởng từ các yếu tố thị trường khác.

Tỷ lệ lãi suất có lẽ sẽ không tăng, ít nhất là 15 tháng nữa, thậm chí còn lâu hơn. Điều kiện kinh tế thực sự vẫn còn đứng khá xa so với những yêu cầu mà chúng ta cần có để thiết lập mức lãi suất cao hơn. Nói thẳng ra là khả năng tăng mạnh lãi suất vào giữa năm 2015 là rất ít, vậy mà đám đông giờ đây đã vội vàng lo lắng rằng khả năng này sẽ sớm trở thành hiện thực.

Có nhiều lý do để mua vàng và môi trường giá suy yếu hiện tại đang cung cấp một cơ hội tốt để thực hiện điều này. Nền kinh tế toàn cầu vẫn bị cản trở bởi nhiều vấn đề mang tính cơ cấu dài hạn, ví dụ như thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại và biến động thị trường tiền tệ, dự kiến sẽ phải mất vài năm để giải quyết chúng. Đây chính là lý do để giới đầu tư bổ sung thêm vàng vào danh mục đầu tư với mục tiêu dài hạn sau đợt điều chỉnh giá trong năm 2013. Đà giảm đã được hạn chế tại mức giá hiện tại. Nhiều người tin rằng quý kim đã chạm đáy vào năm ngoái và có thể củng cố vài quý nữa trước khi mở rộng đà đi lên. Giới đầu tư không nên hạn chế đầu tư vào vàng chỉ với dự đoán tỷ lệ lãi suất tăng sẽ đẩy giá vàng đi xuống.

Giá vàng lên cao nhất trong 3 tuần

Căng thẳng trở lại Ukraine thúc đẩy giới đầu tư mua vàng trong khi đó, lo ngại về nguồn cung đã nâng giá palladium lên mức đỉnh trong 2,5 năm.

Giá vàng giao ngay trên Kitco lúc 5h45 hôm nay 15/4 là 1327,80 USD/ounce.

Theo số liệu sơ bộ của Reuters, giá vàng giao tháng 6 trên sàn Comex tăng 8,50 USD/ounce lên 1.327,60 USD/ounce. Khối lượng giao dịch thấp hơn khoảng 50% so với mức trung bình 30 ngày.


Diễn biến giá vàng giao ngay trên Kitco (Đường màu xanh lá cây)

Sự hấp dẫn của vàng trong vai trò là một tài sản trú ẩn tăng lên trong bối cảnh tình hinh bạo lực gia tăng giữa phe ủng hộ Nga và lực lượng chính phủ Ukraine cũng như tin tức rằng, một máy bay chiến đấu của Nga đã bay lòng vòng ở độ tầm thấp với cự ly gần tàu Mỹ ở Biển Đen vào cuối tuần qua.

Giá vàng tăng theo chỉ số S&P 500 tăng phục hồi trở lại trước báo cáo doanh thu tích cực của Ngân hàng Mỹ Citigroup sau vụ bán tháo mạnh vào tuần trước. Thông thường, giá vàng ngược chiều so với chứng khoán.

Theo giới phân tích, dự báo rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ thận trọng trong việc tăng lãi suất trong tương lai và triển vọng không chắc chắn về chứng khoán Mỹ đã thúc đẩy hoạt động mua vàng.

Vàng tăng giá trong 4/5 phiên giao dịch cuối cùng, sau khi giảm xuống dưới 1.280 USD/ounce vào ngày 1/4 về mức giá thấp nhất trong gần 2 tháng trước dấu hiệu căng thẳng giữa Nga và phương Tây được xoa dịu.

Peter Fertig, cố vấn tại công ty Nghiên cứu Hàng hóa định lượng, cho biết, giá vàng tăng là kết quả của những biến động trong tình hình tại Ukraine và cảnh báo của NATO rằng, Nga có thể xâm lược Ukraine. 

Tuần trước, giá vàng cũng được hỗ trợ sau khi biên bản cuộc họp của Fed cho biết, sẽ không tăng lãi suất ngay sau khi kết thúc chương trình mua trái phiếu như thị trường vẫn lo ngại. 

Trong khi đó, palladium tăng 1,2% lên 809,75 USD/ounce, đánh dấu phiên thứ 5 tăng liên tiếp trước lo ngại về nguồn cung trong bối cảnh Mỹ áp dụng các biện pháp trừng phạt mới lên nhà sản xuất hàng đầu của Nga cũng như các vụ đình công kéo dài tại mỏ khai thác ở Nam Phi.

Ngoài ra, bạch kim tăng 0,7% lên 1.460,40 USD/ounce. Bạc tăng 1 xu lên 19,96 USD/ ounce.


Nguồn Gafin/ Reuters/ NCDT

Sổ tay các chỉ số kinh tế cơ bản (phần 1)


“Nếu bạn không biết các khái niệm CPI, PMI hay ECI có nghĩa gì, mà bạn lại muốn bắt tay vào đầu tư thì cuốn sách này sẽ giúp bạn giải thích những khái niệm đó và một vài điều kiện khác giúp bạn tiếp cận những chỉ số , giúp bạn đầu tư hiệu quả.

Cục Dự trữ Liên bang dùng những chỉ số kinh tế này để theo dõi tình hình lạm phát. Nếu chúng cho thấy áp lực của lạm phát, Cục dự trữ sẽ tăng mức lãi suất. Ngược lại, khi chúng cho thấy dấu hiệu giảm phát, thì mức lãi suất sẽ giảm.

Lãi suất là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế vì nó tác động đến việc từng cá nhân và doanh nghiệp mượn tiền để đầu tư. Một sự tăng lãi suất sẽ làm nền kinh tế suy yếu, trong khi giảm lãi suất sẽ gây nguy hiểm cho sự phát triển.

Mục đích của quyển sách này là để giải thích những thuật ngữ đơn giản, được hầu hết các nhà phân tích và đầu tư sử dụng. Lần tiếp theo khi bạn nghe những thuật ngữ này trên phương tiện thông tin hay những tạp chí tài chính, bạn có thể sử dụng những thông tin này để đánh giá hiệu quả tiềm ẩn của nền kinh tế và khả năng đầu tư của bạn.

Hãy đầu tư khôn ngoan.
Manuel Jesus-Backus”

Để tham khảo các thông tin, chỉ số kinh tế cập nhật hàng ngày và trong tuần, vui lòng tham khảo theo link dưới đây :

- Lịch kinh tế hàng ngày : Xem tại đây



Sổ tay các chỉ số kinh tế cơ bản – Phần 1



Định nghĩa : Mỗi Ngân hàng của Cục dự trữ Liên bang tập hợp những thông tin liên quan đến tình trạng của nền kinh tế hiện nay dựa trên những báo cáo của Giám đốc các Ngân hàng và chi nhánh và giới thiệu chúng với những doanh nhân lớn, những nhà kinh tế, những chuyên gia thị trường, và những nguồn lực khác. Quyển Beige Book này tóm tắt lại những thông tin theo từng lĩnh vực.

Ý nghĩa: Cục dự trữ Liên bang sử dụng những báo cáo này, công với những chỉ số khác để quyết định mức lãi suất tại cuộc họp FOMC (Federal Open Market Committee). Cuộc họp này được tổ chức 2 tuần sau khi phát hành quyển Beige Book.

Nếu quyển Beige Book cho thấy tình trạng lạm phát tăng cao, thì Cục dự trữ sẽ tăng lãi suất. Và ngược lại, nếu Beige book cho thấy tình trạng giảm lạm phát, có thể lãi suất sẽ giảm

Cơ quan phát hành : Ban điều hành Dự trữ liên bang
Thời điểm phát hành: 2:00 chiều thứ tư trước cuộc họp FOMC
Mật độ : một năm 8 lần
Xét duyệt: dữ liệu không phải xét duyệt.

2. Chicago Purchasing Managers’ Index (PMI) – Chỉ số của các nhà quản lí mua hàng của Chicago

Định nghĩa: Nó dựa trên những cuộc điều tra hơn 200 nhà quản lí đánh giá sức mua trong nền công nghiệp sản xuất khu vực Chicago nơi phản ánh hoạt động phân phối của cả quốc gia.

Ý nghĩa: Dựa trên chỉ số của Cục dự trữ Philadenphia, có thể sự đoán được gần chính xác hơn chỉ số ISM, nó đang giảm hằng ngày theo tình hình kinh doanh. ISM là chỉ số hướng dẫn hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.

Cơ quan phát hành: Hiệp hội các nhà quản lý mua hàng Chicago
Thời điểm phát hành: Ngày giao dịch cuối của tháng lúc 10h sáng (10h tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy trong tháng hiện tại
Mật độ : hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được kiểm tra mỗi năm một lần. Việc xét duyệt này cũng không quan trọng lắm

3. Consumer Confidence Index – Chỉ số niềm tin tiêu dùng

Định nghĩa: Một cuộc khào sát 5000 người tiêu dung về thái độ của họ đối với tình hình hiện tại và những mong muốn của họ trước tình trạng nền kinh tế đang tuột giảm.

Ý nghĩa: Báo cáo này đôi khi rất có ích trong việc dự đoán những thay đổi bất ngờ trong những mẫu khảo sát tiêu dùng. Và khi người tiêu dùng sử dụng 2/3 tài khoản của mình vào nền kinh tế, nó giúp chúng ta hiểu thấu được hướng đi của nền kinh tế đó. Tuy nhiên, chỉ khi những chì số đó thay đổi ít nhất 5 điểm thì mới nên được xem xét cẩn thận.

Cơ quan phát hành: Ban điều hành hội nghị
Thời điểm phát hành: 10h sáng ngày thứ 3 tuần cuối của tháng ( 10h tối giớ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Dữ liệu được kiểm tra hàng tháng trên cơ sở phản hồi điều tra hoàn chỉnh. Những yếu tố thay đổi theo mùa phải được cập nhật định kỳ. Việc kiểm tra không quan trọng lắm.

4. Consumer Price Index (CPI) – Chỉ số giá tiêu dùng

Định nghĩa: Là một chỉ số dùng để tính toán sự thay đổi giá cả của một số mặt hàng đại diện của các sản phẩm và dịch vụ như thức ăn, năng lượng, dụng cụ nhà ở, quần áo, phương tiện giao thông, chăm sóc sức khỏe, giải trí và giáo dục. Nó cũng có thể được coi là chỉ số chi tiêu cho cuộc sống

Ý nghĩa: Việc theo dõi chỉ số CPI là rất quan trọng bao gồm giá cả của thức ăn và năng lượng sao cho nó bình ổn trong tháng. Nó được xem như là “chỉ số CPI chủ yếu” và cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về xu hướng lạm phát trong đó.

Tỉ lệ thay đổi chỉ số CPI nòng cốt này là một trong những thước đo lạm phát chính trong nền kinh tế Mỹ. Khi chỉ số CPI đó vượt xa mức mong đợi sẽ gây nên tình trạng lạm phát.

Cơ quan phát hành: Cục nghiên cứu của Bộ Lao động Mỹ
Thời điểm phát hành: khoảng ngày 13 hàng tháng, lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Những yếu tố thay đổi theo mùa được cập nhật vào tháng Hai với những dữ liệu của tháng Một. Dữ liệu được xét duyệt có hiệu lực trong 5 năm. Tầm quan trọng của việc xét duyệt thấp.

5. Durable Goods Orders – Đơn đặt hàng dài hạn

Định nghĩa: tên đầy đủ là Báo cáo chuyên nghiệp về những đơn đặt hàng và gửi hàng dài hạn. Đây là một chỉ số của chính phủ để đo lường lượng đồng dollar trong các đơn đặt hàng, gửi hàng và những đơn hàng trống của những mặt hàng được đặt dài hạn.Đó là những mặt hàng mới hoặc thường được sử dụng trong cuộc sống đời thường từ 3 năm trở lên. Những phân tích thường loại trừ những đơn đặt hàng vận chuyển vì tính không ổn định của chúng.

Ý nghĩa: Báo cáo này cung cấp cho chúng ta thông tin về sức mạnh của những nhu cầu của thị trường Mỹ để sản xuất những sản phẩm dài hạn, từ nguồn trong nước cũng như nước ngoài. Khi chỉ số đó tăng, nó làm cho nhu cầu tăng lên, kết quả là tăng sản xuất và tăng công việc. Khi chỉ số giảm thì điều ngược lại sẽ xảy ra.

Đây cũng là một trong những chỉ số đầu tiên về nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh trang thiết bị. Lượng tiêu dùng tăng sẽ làm góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát.

Nguồn: Bộ phận điều tra của Bộ thương mại
Thời điểm phát hành: khoảng ngày 26 hàng tháng, lúc 8h30 (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được kiểm tra hằng tháng cho 2 tháng trước đó để phản ánh được nhiều thông tin hơn. Những yếu tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu hàng năm. Xét duyệt này có hiệu lực ít nhất 3 năm và rất quan trọng.

6. Employment Cost Index (ECI) – Chỉ số chi tiêu cho lao động

Định nghĩa: Chỉ số ECI được tạo ra để tính toán sự thay đổi trong chi tiêu cho lao động bao gồm tiền công, tiền lương cũng như lợi ích đạt được.

Ý nghĩa: Nó rất hữu ích trong việc đánh giá xu hướng tiền lương và rủi ro của lạm phát tiền lương. Nếu tình trạng lạm phát xảy ra thì lãi suất sẽ tăng và khi đó cố phiếu, trái phiếu sẽ giảm.

Cơ quan phát hành: Bộ lao động Mỹ, phòng điều tra lao động
Thời điểm phát hành: lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam) ngày giao dịch cuối cùng của tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10. Dữ liệu lấy từ quý trước.
Mật độ: 3 tháng 1 lần
Xét duyệt: Những nhân tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu hằng năm. Xét duyệt này có hiệu lực ít nhất 5 năm và rất quan trọng.

7. Employment Situation – Tình trạng việc làm

Định nghĩa: Báo cáo này liệt kê ra danh sách những công việc không phải là nông nghiệp và cơ quan chính phủ. Tỉ lệ thất nghiệp, trung bình mỗi giờ và số tiền kiếm được mỗi tuần và thời gian trung bình tuần làm việc cũng được liệt kê trong báo cáo này. Số liệu này gần nhất với những phân tích kinh tế vì mốc thời gian, tính chính xác và tầm quan trọng của nó như là một chỉ số trong hoạt động kinh tế. Vì vậy, nó đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường tài chính trong suốt tháng.

Ý nghĩa : Đây là chỉ số trùng khớp đánh giá sự phát triển kinh tế, việc làm càng tăng nhiều thì tăng trưởng kinh tế càng tăng nhanh.

Tỉ lệ thất nghiệp tăng sẽ đi kèm với nền kinh tế đóng và giảm mức lãi suất. Ngược lại, tỉ lệ thất nghiệp giảm sẽ đi kèm với nền kinh tế mở và mức lãi suất tăng lên mức tiềm năng. Vấn đề là tiền lương sẽ tăng nếu tỉ lệ thất nghiệp quá thấp và khó tìm được nguồn nhân công. Nền kinh tế sẽ được xem như là đủ việc làm khi tỉ lệ thất nghiệp trong mức từ 5,5% – 6,0%

Nếu trung bình tiền lương tăng rõ rệt, nó có thể là một chỉ số lạm phát tiềm ẩn.

Khi trung bình tuần làm việc có xu hướng cao lên, nó dự đoán việc lao động sẽ gia tăng thêm.

Cơ quan phát hành: Cục điều tra lao động, Bộ lao động Mỹ
Thời điểm phát hành: 8h30 sáng thứ hai của tuần đầu tiên trong tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng cho tháng trước đó. Nó rất quan trọng và có 1 cuôc xét duyệt thường niên vào tháng 6.


(còn tiếp…)



Theo The Portfolio Crafter – Maxi-Forex biên soạn và lược dịch

Lịch công bố thông tin cơ bản và phân tích ngày 15/04/2014

Chỉ số kinh tế thế giới được công bố trong ngày


Tổng hợp thị trường ngày 14.04.2014.

Giá vàng trong phiên đầu tuần đã có xu hướng tăng nhẹ khi mở cửa ở mức 1320.10 USD/Ounce và đóng cửa ở mức 1326.96 USD/Ounce, tăng gần 7 USD/Ounce và là mức cao nhất trong vòng 3 tuần do những tác động từ cuộc khủng hoảng chính trị tai Ucraina. Khi các diễn biến tiếp tục neo thang tại các khu vực miên đông.

Tại Mỹ Doanh số bán lẻ trong tháng 3/2014 cải thiện hơn nhờ thời tiết tốt dần lên. Theo chỉ số được công bố thì đạt mức tốt nhất từ năm 2012, điều này giúp cho các các chỉ số chứng khoán Mỹ tăng điểm mạnh mẽ trong phiên ngày hôm qua. Ngoài ra lượng hàng tồn kho kinh doanh trong tháng 3 của Mỹ được công bố thấp hơn dự báo là 0,4%.

Đồng EUR đã có sự giảm giá mạnh khi ngân hàng trung ương châu âu ECB phát đi những tín hiệu sẽ có những hành động nhằm hạ giá đồng EUR. Ngoài ra, theo báo cáo của Ngân hàng trung ương Italia thì nợ công của nước này đã ở mức cao kỷ lục 132% GDP.Tại Italia đang diễn ra nhiều cuộc biểu tình phản đối các chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ.


Tin tức cơ bản công bố ngày 15.04.2014.

Lúc 8h30 tại Australia công bố chính sách tiền tệ. Theo thông tin được công bố thì ngân hàng trung ương Australia (RBA) cho rằng: thị trường việc làm đã tốt lên khi tỷ lệ thất nghiệp giảm, mức lãi suất và lạm phát vẫn ở trong mục tiêu, thị trường có triển vọng về giá nhà ở, trong thời gian tới vẫn cần phải giữ mức lãi suất như hiện tại để thúc đẩy phát triển trong nước. Khả năng lớn sẽ không có chính sách mới nào được đưa ra. Tuy nhiên khi mở đầu thì RBA cũng cho rằng, hiện nay giá trị đồng AUD vẫn đang ở mức cao so với thời gian trước. Do vậy giá trị đồng AUD đã có sự sụt giảm ngay sau khi biên bản mới đươc công bố. 

Lúc 15h30, Tại Anh sẽ công bố chỉ số CPI đây là dữ liệu lạm phát quan trọng nhất của Anh bởi vì nó được sử dụng như mục tiêu lạm phát của ngân hàng trung ương Anh. Trong thời gian gần đây, chỉ số này liên tục giảm đã có tác động xấu đến giá trị đồng Bảng.Theo dự báo thì chỉ số sẽ tiếp tục giảm từ mức 1,7% xuống mức 1,6%. Nếu số liệu được công bố đúng như dự báo thì giá trị đồng Bảng sẽ chịu áp lực giảm giá.

Lúc 16h00, tại Đức sẽ công bố chỉ số niềm tin kinh doanh. Đây là một chỉ số hàng đầu về sức khỏe nền kinh tế và đầu tư. Nó được khảo sát từ khoảng 275 tổ chức đầu tư và nhà phân tích của Đức để đánh giá triển vọng kinh tế trong 6 tháng của Đức. Từ tháng 12/2013 đến nay, chỉ số này đã liên tục giảm từ mức cao là 62.0 xuống mức 46.6. Và theo các chuyên gia dự đoán thì chỉ số này sẽ tiếp tục có sự giảm nhẹ xuống mức 46.3. Nếu chỉ số được công bố đúng như dự đoán thì sẽ gây áp lực giảm giá lên đồng EUR trong thời gian ra tin.

Lúc 19h30, Tại Canada sẽ công bố chỉ số sản xuất kinh doanh, được phát hành hàng tháng và sau 45 ngày sau khi tháng kết thúc. Chỉ số cho thấy những thay đổi trong doanh số bán hàng của các hoạt động kinh tế và sản xuất từ đó cho thấy được những tín hiệu đầu tiên của hoạt động tương lai như chi tiêu, việc làm và đầu tư. Trong tháng trước, chỉ số đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ khi từ mức âm1,5% lên mức dương 1,5%. Theo các chuyên gia dự đoán thì chỉ số được công bố lần này sẽ có sự giảm nhẹ về mức 1,1% và nếu chỉ số được công bố đúng như dự đoán thì đồng Canada sẽ có áp lực giảm giá trong thời gian ra tin.

Lúc 19h30, tại Mỹ sẽ công bố chỉ số CPI lõi cho thấy những sự thay đổi trong giá cả hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dung và không bao gồm thực phẩm và năng lượng. Từ đầu năm đến nay, chỉ số này luôn giữ ở mức 0.1%, và theo các chuyên gia dự đoán thì chỉ số được công bố lần này cũng không có gì thay đổi. Do đó có thể sẽ không có nhiều tác đông đến giá trị đồng USD.

Lúc 19h45, Tại Mỹ sẽ có bài phát biểu của chủ tịch Fed, bà Yellen. Trong thời gian gần đây cục dự trữ kiên bang Mỹ liên tục phát ra những tín hiệu về việc sẽ có những hỗ trợ thị trường ngay cả khi tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống mức mong muốn là 6,5%. Tuy nhiên những biện pháp cụ thế vẫn chưa được đưa ra. Nhiều khẳ năng trong bài phát biểu hôm nay sẽ tiếp tục củng cố niềm tin của các nhà đầu tư về nền kinh tế Mỹ. Nếu đúng như dự đoán thì giá trị đồng USD sẽ tăng trong khoảng thời gian ra tin.

14/4/14

Đồng Euro tiếp tục trượt giá so với những đồng tiền chính sau khi ECB cảnh báo về gói nới lỏng định lượng.


Đồng Euro tiếp tục trướt giá so với 16 cặp tiền chính sau khi chủ tịch ECB,Mario Draghi, phát biểu rằng sẽ có những động thái xa hơn cho gói cứu trợ.

“Mario Draghi đã nói, và ông ta đã nói trước đây, tiền tệ thật sự đã tạo ra những ảnh hưởng nhất định trong chính sách tiền tệ, nó được coi như là một cái thắng tay để kiềm chế lạm phát” Chris Weston nói, giám đốc chiến lược của công ty IG tại Melbourne. “Ông ta đang cố gắng bảo vệ mức$1.39. Trên mức $1.39, bạn đang vượt quá biên độ dài hạn”

Đồng Euro rớt 0.3% xuống mức $1.3850 vào lúc sáng 9:46 am tại Tokyo sau khi đạt mức 1.3% tuần trước, đạt mức cao nhất từ ngày 20 tháng 9. Euro tiếp tục nất giá 0.4% xuống mức 140.61 yen. Đồng USDJPY đạt mức 101.53, giảm 0.1% so với ngày 11 tháng 4.

“Tôi luôn nói rằng tỉ giá hối đoái không phải là một chính sách chủ đạo mà chúng ta theo đuổi, nhưng nó rất quan trọng trong việc bình ổn giá và phát triển nền kinh tế” Draghi tiếp tục “và bây giờ, sau những gì đã xảy ra trong những tháng trước đây, nó càng lúc càng quan trọng trong việc bình ổn giá cả”

Hiệu ứng của việc tăng giá trị

Một nhân vật trong ngân hàng của Pháp, Christian Nover, nói rằng sự tăng giá của đồng euro thật sự là “một mối bận tâm nghiêm trọng,” trong khi chủ tịch Bundesbank Jens Weidmann nói rằng giá trị hối đoán tăng cao là một bài test về lạm phát cho ECB và những thành viên trong ECB đang xem xét những tác động của nó.

Đồng Eu chạm mức $1.3967 vào ngày 13 tháng 3, đạt mức cao nhất từ tháng 10 năm 2011. Đồng Euro đã đạt mức 145.69 Yen, đạt mức cao chưa từng thất từ tháng 10 năm 2008. 

“Sự tăng giá của đồng Euro đang gây ra những lo ngại nhất định cho những nhà chính sách, Mansoor Mohi-uddin, một nhà chiến lược của UBS có trụ sở tại Singapore, đã viết trong một bản cáo cho khách hàng. “Sự tranh luận về vấn đề sẽ đưa ra gói kích cầu khi cần thiết hoặc ngân hàng trung ương có nên mua tài sản hoặc giảm lãi suất xuống mức âm. Đó đều là những vấn đề gây nhức nhối cho ECB”



Tại Mỹ, doanh số bán lẻ đã đạt mức cao nhất trong tháng 3 từ tháng 9 năm 2012.Sức mua đang đạt mức 0.9% từ tháng 2 khi nó đã đạt mức 0.3%, bản báo cáo cho thấy.Sức mua của người tiêu dùng Mỹ chiếm khoảng 70% nền kinh tế Mỹ.

Châu Âu chi kỷ lục 2.000 tỉ Euro cổ tức



Nếu phải chọn giữa đầu tư trở lại vào doanh nghiệp hay trả tiền cho cổ đông, các giám đốc điều hành của châu Âu chọn trả cổ tức.

Các công ty trong danh sách của chỉ số chứng khoán Stoxx 600 sẽ trả trung bình là 11,54 euro cổ tức cho mỗi cổ phiếu, mức cao nhất tính từ 2002, theo thống kê của Bloomberg. Cùng lúc đó dòng tiền mặt từ hoạt động đang ở mức 37,45 euro/cổ phiếu - cao nhất từ 2011. Chứng khoán đã tăng hơn hai lần từ 2009 sau khi chủ tịch ECB Mario Draghi cam kết giữ vững đồng tiền chung euro.
Theo thống kê của Bloomberg, các công ty châu Âu đã chi ra 2.000 tỉ euro tiền mặt (tức 2.800 tỉ USD), gần như cao nhất kể từ 2003. Mặc dù năm ngoái khu vực châu Âu đã thoát khỏi trận suy thoái tồi tệ nhất, các CEO vẫn nghi ngờ về khả năng phục hồi kinh tế khu vực. Họ muốn chờ xem kết quả của chính sách tiền tệ.


Đống tiền mặt


Từ 2008 đến nay các công ty trong Stoxx 600 đã tăng được gấp đôi lượng tiền mặt nắm giữ. Trong khi đó, chi phí đầu tư đã giảm còn 18,37 euro/cổ phiếu trong năm ngoái so với mức 20,17 euro hồi 2008, theo thống kê của Bloomberg. Khoảng 57% các nhà quản lý quỹ tài sản toàn cầu nói công ty nên chi tiền vào đầu tư kinh doanh hơn là tăng cổ tức hoặc mua lại cổ phiếu, theo điều tra hồi tháng 3 của Bank of America.

Mặc dù chứng khoán châu Âu đã tăng vọt 17% trong 2013 với niềm tin kinh tế đang cải thiện sẽ tăng doanh thu, chi tiêu đầu tư cần một thời gian dài nữa để có thể hồi phục.

Triển vọng kinh tế

Kinh tế khu vực euro sẽ tăng trưởng 1,1% năm nay, mức tăng năm đầu tiên từ 2011, theo trung bình dự báo của 53 nhà kinh tế học trả lời điều tra của Bloomberg. Khu vực đã thoát khỏi cơn suy thoái dài nhất từ khi hình thành EU năm 1999 đến quý hai năm 2013, theo thống kê của Liên minh châu Âu. Doanh thu của các công ty Stoxx 600 sẽ tăng 9% trong 2014 tới mức 22,92 euro/cp, mức lớn nhất từ 2007, theo ước tính của Bloomberg.

Châu Âu chiếm 1/4 chi tiêu đầu tư toàn cầu trong 2013 so với mức 1/3 tổng đầu tư của 2003, theo Standard & Poor cho biết trong năm ngoái. Hãng xếp hạng tín dụng này cho biết đang dự kiến có mức hồi sinh chậm về đầu tư ở châu Âu. S&P cảnh báo mức chi tiêu đầu tư thấp sẽ làm hại tăng trưởng và ảnh hướng nghiêm trọng tới việc làm.

Các công ty của Stoxx 600 đã tích lũy được 2040 tỉ euro theo hồ sơ lưu ký mới nhất của họ do Bloomberg thu thập. Họ có 2160 tỉ euro năm 2012, mức lớn nhất tính từ 2003.

Đầu tư ở Mỹ

Trong lúc đó có các dấu hiệu đầu tư kinh doanh ở Mỹ đang phục hồi. Các công ty từ Macy tới dự án đường sắt Burlington Bắc Santa Fe của Warren Buffett đều có kế hoạch tăng chi tiêu đầu tư. Đầu tư vào các dự án không phải nhà ở cũng như thiết bị sẽ tăng 7% trong 2014 sau mức tăng 3,1% năm 2013, theo các nhà kinh tế của Goldman Sachs. Ngân hàng Đầu tư UBS dự đoán tăng 7,5% chi tiêu vào thiết bị, nối tiếp là tăng 10% trong 2015.

Ở châu Âu, mức tăng các hoạt động thâu tóm và sáp nhập có thể thể hiện các công ty sẽ bắt đầu mở rộng công việc kinh doanh. Họ sẽ thoát khỏi chuyện dùng tiền mặt để tăng cường mua lại cổ phiếu và chi cổ tức, theo Raifeinsen Capital Management. Tổng giá trị các giao dịch M&A ở Tây Âu năm 2014 sẽ tăng 71% so với năm ngoái lên 234,4 tỉ USD, theo thống kê của Bloomberg.

Tính hấp dẫn của mức cổ tức cao sẽ tiếp tục tăng giá cổ phiếu châu Âu, vì nó cao hơn lợi tức trái phiếu chính phủ, theo UniCredit Bank AG. Tỷ lệ cổ tức của các công ty Stoxx 600 năm nay sẽ tăng lên mức 3,44% từ mức 3,29% năm 2013 theo trung bình ước tính của điều tra Bloomberg. Như vậy đã cao hơn gấp đôi mức lợi tức trái phiếu 10 năm của Đức là 1,58% , trong khi của chỉ số S&P 500 được dự báo ở mức 2,09%. 

Tăng chi trả cổ tức để nâng giá cổ phiếu

Các công ty từ Swiss Life Holdings tới Prudential đã đề nghị tăng cường chi trả trong mùa báo cáo doanh thu gần nhất. Swiss Life tăng được 6% trong ngày 26/2 sau khi tăng mức trả cổ tức lên 22%. Prudential nhảy vọt lên mức kỷ lục trong ngày 12/3 sau khi tăng mức cổ tức lên 11%. Trong số 444 công ty của Stoxx 600 đã thông báo chi trả cổ tức của thời kỳ báo cáo kết quả mới nhất, hơn 75% đã đạt hoặc vượt mức dự báo cổ tức của Bloomberg.

Theo Trí Thức Trẻ/Bloomberg

Tổng hợp thị trường tuần từ 07.04 đến 13.04.2014

Tổng hợp thị trường tuần từ 07.04 đến 13.04.2014


Tuần vừa qua Vàng chỉ giảm giá duy nhất ngày thứ hai và tăng liên tiếp đến hết tuần.

Trong tuần qua các chỉ số của nền kinh tế số 1 thế giới - Mỹ được công bố đều cho kết quả khả quan như: Lượng đơn trợ cấp thất nghiệp tuần trước đó đã giảm về mức 300.000 đơn (đây là mức thấp nhất kể từ tháng 5.2007). Hay chỉ số Niềm tin tiêu dùng ở mức 82.5 điểm ( đây là mức điểm cao nhất tính từ 7.2013).

Nhưng trái ngược với những thông tin t\ốt ở trên, thị trường tài chính Mỹ vẫn giảm điểm mạnh tuần vừa qua (từ thị trường chứng khoán cho tới thị trường trái phiếu). Do một phần bởi áp lực chốt lời của các cổ phiếu công nghệ hay báo cáo kết quả kinh doanh quý 1 không được tốt của nhà băng lớn nhất Hoa Kỳ là JP Morgan Chase. Đặc biệt là lo ngại của giới đầu tư về việc Fed nhanh chóng cắt giảm kích thích kinh tế trong thời gian tới. Những tác động đó đã làm chỉ số US Dollar Index giảm ngay từ đầu tuần và chỉ phục hồi nhẹ vào ngày thứ sáu. Điều này đã phản ánh hoàn toàn lên giá Vàng trong tuần qua.

Vì thế kết thúc tuần, kim loại quý này đã có tuần thứ 2 tăng liên tiếp nhưng với lực tăng không mạnh. Cả tuần Vàng đã tăng 16$, đóng cửa ở mốc 1318.25 USD/Oz.

Tại Nhật Bản việc công bố chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Nhật được các nhà đầu tư quan tâm nhất tuần qua. Nhưng khi BOJ công bố chính sách đã làm thất vọng các giới đầu tư vì BOJ vẫn giữ nguyên chính sách trước đó của họ. Trong khi các nhà đầu tư kỳ vọng ngân hàng trung ương Nhật sẽ có thêm kích thích kinh tế để bù đắp việc tăng thuế tiêu dùng từ đầu tháng 4. Vì vậy đồng Yên tuần qua đã tăng giá mạnh trở lại so với USD.

Tại Úc tuần qua cũng có khá nhiều thông tin quan trọng được công bố. Đầu tuần là Niềm tin kinh doanh được công bố không mấy khả quan (chỉ ở mức tăng 4 điểm). Nhưng khi các chỉ số về việc làm được công bố thì đều ở con số ấn tượng như: Lượng việc làm được tạo mới ở mốc 18.100 còn tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn 5.8%. Cho nên đồng AUD đã tăng khá mạnh so với USD vào 3 ngày giữa tuần, chỉ giảm nhẹ vào đầu tuần và ngày cuối tuần giao dịch.

Tại Anh những lo ngại về giảm tốc tăng trưởng kinh tế trong tuần trước đó đã giảm bớt, khi chỉ số sản xuất được công bố đạt mức 1% ( đây là mức tăng cao nhất kể từ tháng 12.2013). Thêm vào đó, tại cuộc họp thường kỳ của ngân hàng trung ương Anh - BOE đã quyết định giữ nguyên chính sách kích thích kinh tế trước đây, trong đó lãi suất cơ bản vẫn ở mức thấp kỷ lục 0.5% để kích thích tăng trưởng.

Do đó đồng Bảng cũng đã có những phiên tăng mạnh tuần vừa qua so với USD và chỉ điều chỉnh vào cuối tuần.


Thông tin cơ bản công bố ngày 14.04.2014.


Vào lúc 19h30 Mỹ công bố Doanh số bán lẻ trong tháng 3. Các chuyên gia dự đoán sẽ ở mức 0.8%. Nếu như thông tin được công bố như con số trên, thì đây là mức cao nhất kể từ đầu năm 2014. Hiện tại nền kinh tế Hoa Kỳ cũng đang cho thấy sự tăng trưởng khả quan hơn, đặc biệt sau mùa đông khắc nghiệt vừa qua. Vì vậy nếu thông tin được công bố như dự đoán sẽ là chất xúc tác cho thị trường cũng như sẽ tạo ra áp lực tăng giá đồng USD trong phiên Mỹ.

13/4/14

Tại sao giới đầu tư bị hấp dẫn bởi trái phiếu Hy Lạp?

Hy Lạp là một đất nước có tỷ lệ nợ công cao với triển vọng tăng trưởng thấp nhưng nhiều nhà đầu tư vẫn muốn cho Hy Lạp vay tiền.



Theo hãng truyền thông Thomson Reuters, ngày 10/4, Hy Lạp đã bán 3 tỷ euro trái phiếu kỳ hạn 5 năm với lợi suất là 4,95%.

Ban đầu nhìn thì có vẻ con số này khá lớn. Trong danh sách cập nhật về 10 nước mắc nợ nhiều nhất thế giới của tạp chí The Richest, Hy Lạp xếp thứ 3 với tỷ lệ nợ công/GDP là 175%, cao hơn nhiều so với mức 156% trước khi tái cơ cấu vào năm 2012. Trong khi phần lớn các nền kinh tế có xu hướng tăng trưởng trong vòng một vài năm tái cơ cấu nhưng kinh tế Hy Lạp vẫn "chìm nghỉm" mặc dù tốc độ suy thoái chậm hơn.

Dưới đây là đồ thị về thay đổi tỷ lệ nợ công/GDP của Hy Lạp so với các nước khác trước và sau khi tái cơ cấu.



Vậy, tại sao Hy Lạp - một trong những nước đứng đầu thế giới về nợ công - lại khiến giới đầu tư "điên cuồng" muốn cho vay đến vậy?

Thứ nhất là, giới đầu tư thực tế đang "thèm khát" lợi suất.

Trong khoảng thời gian này, thật khó có thể kiếm được ở đâu loại trái phiếu có lợi suất từ khoảng 5% trở lên. Thậm chí, mua số trái phiếu Đức tương đương cũng chỉ đem lại lợi suất chưa đến 1%.

Thứ 2 là, giới đầu tư thường yêu cầu nhiều hơn những gì họ thực sự muốn.

Khi biết rằng, nhu cầu sẽ tăng lên, giới đầu tư thường yêu cầu gấp đôi so với những gì họ thực sự muốn. Một quỹ đầu tư muốn mua số trái phiếu trị giá 100 triệu euro sẽ có thể yêu cầu ít nhất là 200 triệu euro. Những người quen thuộc với thị trường trái phiếu quốc tế cho biết, nhu cầu chính xác thường là dưới 20 tỷ euro, nhưng rõ ràng, so với số trái phiếu bán ra trị giá 3 tỷ euro của Hy Lạp lại cao hơn rất nhiều.

Thứ 3 và có lẽ là điều quan trọng nhất là, các nhà đầu tư được bảo đảm (bằng lịch).

Khi nói đến nợ của một nước thì không chỉ nói về số tiền nước đó phải trả mà còn là thời gian hoàn trả nợ. Khi Hy Lạp tái cơ cấu nợ vào tháng 3/2012, những trái phiếu cũ mà chính phủ chưa thể trả nợ được chuyển thành trái phiếu với thời hạn rất, rất dài - có thể lên đến hàng thập kỷ.

Ngoài số nợ với Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Hy Lạp không có bất kỳ khoản thanh toán nợ đáng kể nào khác cho đến tận năm 2023, rất lâu sau khi loại trái phiếu mới đáo hạn vào năm 2019. Dựa vào lịch, những người nắm giữ loại trái phiếu mới sẽ có thời gian hoàn trả nợ lâu hơn so với những cơ sở cho vay thuộc chính phủ - chiếm hơn 1/2 số nợ của Hy Lạp.

Theo cách nói trên thị trường nợ, hiện tại, hồ sơ nợ đáo hạn của Hy Lạp đã được cải thiện hơn. Cơ quan xếp hạng của Moody, cho biết, trước khi tái cơ cấu, nợ của Hy Lạp trung bình đáo hạn chỉ trong 6,5 năm và tăng lên 17 năm sau khi tái cơ cấu. Điểm cộng là nợ của Hy Lạp có lãi suất khởi đầu thấp hơn nhiều, ở 1,5%.

Hãy tưởng tượng, bạn đột nhiên có thể thay đổi nợ thế chấp kỳ hạn 17 năm thành nợ thế chấp kỳ hạn 6 năm với lãi suất thấp hơn nhiều. Dòng tiền của bạn sẽ được cải thiện đáng kể. (Hy Lạp dự kiến ​​bắt đầu trả nợ cho Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) vào năm 2017 nhưng sau đó đã mở rộng thành 7 năm với lãi suất thấp giúp cho Hy Lạp dễ xoay xở hơn).

Thứ 4 là, các lãnh đạo châu Âu không muốn một lần nữa trừng phạt các ngân hàng tư nhân.

Các chủ nợ tư nhân đã bị ảnh hưởng nặng nề trong thời gian tái cơ cấu. Những người quen với lối tư duy của lãnh đạo cấp cao châu Âu nói rằng, họ không muốn lặp lại việc tái cơ cấu vì lo sợ sẽ bị các chủ nợ xa lánh, dẫn đến lãi suất lên cao hơn. Nếu xảy ra, giới đầu tư tin rằng, người nộp thuế ở châu Âu sẽ chính là nạn nhân sẽ phải hứng chịu thiệt hại trong tương lai.

Thứ 5 là, giới đầu tư có sự ủng hộ của ECB.

Mario Draghi, chủ tịch ECB từng hứa sẽ làm bất cứ việc gì để duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính trong khu vực đồng euro. Trước đó, ông Draghi cho biết, ban điều hành của ECB đã thảo luận về khả năng nới lỏng định lượng - mua trái phiếu chính phủ để kéo giảm lãi suất.


Nguồn Gafin


LỊCH SỰ KIỆN

 
Bản quyền thuộc về FxHcm - Nâng tầm giá trị đầu tư © 2013. | Post RSS | Comments RSS
Tìm hiểu Forex là gì | Quản lý vốn đầu tư | Tâm lý giao dịch | Cách đọc đồ thị nến nhật | Xác định hỗ trợ và kháng cự | Phương pháp giao dịch Price Action | Giao dịch theo mô hình giá | Giao dịch với Indicator | Giao dịch theo sóng Elliott | Giao dịch theo hệ thống Ichimoku | Giao dịch theo tin tức | Kinh nghiệm giao dịch | Các hệ thống giao dịch chuẩn | Tin tức